A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) tỉnh Thái Bình năm 2019;

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2019 của tỉnh đạt 65,38 điểm, xếp hạng 28/63 tỉnh thành trong cả nước (thứ 6/11 tỉnh đồng bằng Sông Hồng). So với năm 2018, chỉ số PCI của tỉnh đã tăng 2,15 điểm và 04 bậc trên bảng xếp hạng PCI cả nước. Có một số chỉ tiêu có sự cải thiện đáng kể về điểm số như: Gia nhập thị trường tăng 0,73 điểm, Chi phí thời gian tăng 1,18 điểm, Cạnh tranh bình đẳng tăng 1,02 điểm, Tính năng động tăng 1,32 điểm.

Năm 2019, được sự lãnh đạo, chỉ đạo và quan tâm, giúp đỡ kịp thời, có hiệu quả của Trung ương; Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Thái Bình đã nỗ lực, phấn đấu đạt được những kết quả tích cực, tương đối toàn diện trên các lĩnh vực. Nổi bật là: GRDP ước đạt 55.924 tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ - vượt kế hoạch năm đã đề ra (kế hoạch tăng 10%); tổng giá trị sản xuất ước đạt 152.572 tỷ đồng, tăng 14%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Khu vực công nghiệp, xây dựng đạt mức tăng trưởng giá trị sản xuất cao hơn bình quân kế hoạch cả năm và cao hơn mức tăng trưởng cùng kỳ những năm trước (Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 22%, giá trị sản xuất xây dựng tăng 19,2%). Thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp tăng mạnh cả về số dự án, số doanh nghiệp thành lập mới và vốn đăng ký đầu tư; đã thu hút được một số tập đoàn kinh tế lớn cùng nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước vào nghiên cứu, thực hiện đầu tư, thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển. Thu ngân sách trên địa bàn vượt xa dự toán được giao. Xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tích cực với 263/263 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, 01 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 100% số huyện đã hoàn thành các tiêu chí quốc gia, trong đó 05/07 huyện được công nhận nông thôn mới cấp huyện; 100% xã, phường, thị trấn đã có nước sạch phục vụ nhân dân. Lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ; an sinh xã hội được bảo đảm. Công tác cải cách hành chính được tăng cường với 100% thủ tục hành chính được thực hiện tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh và Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả cấp huyện; 100% thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh được giải quyết theo phương án “5 tại chỗ”; rà soát, cắt giảm ổn định 50% thời gian giải quyết các thủ tục so với quy định hiện hành, tạo thuận lợi và giảm đáng kể chi phí cho doanh nghiệp và người dân.

Đặc biệt, công tác triển khai xây dựng Khu kinh tế Thái Bình được tỉnh chỉ đạo quyết liệt và đạt kết quả khả quan. Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tạo thuận lợi cho quá trình triển khai; đồng thời, tỉnh đã tích cực nghiên cứu, xây dựng các quy định về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư trong Khu kinh tế; tiến hành quy hoạch chi tiết các phân khu trong Khu kinh tế Thái Bình, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào tỉnh.

Cùng với đó, các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, việc làm, y tế, văn hóa, thể dục - thể thao và thông tin - truyền thông cũng đạt kết quả tốt. Công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị được chú trọng; khối đoàn kết toàn dân được củng cố và phát huy. An ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ nét.

Ngày 07/5/2020, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2019, đây là báo cáo PCI năm thứ 15 về đánh giá chất lượng điều hành kinh tế của 63 tỉnh, thành phố cả nước. Vẫn như các năm trước, Báo cáo PCI năm 2019 được thực hiện theo phương pháp "Điều tra chọn mẫu", số doanh nghiệp trên cả nước, (gồm cả các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình) tham gia phản hồi trong năm 2018 là 10.846 doanh nghiệp, trong đó có 2.073 doanh nghiệp mới thành lập trong năm 2018 và 2019. Ngoài ra, còn có 1.583 doanh nghiệp FDI trên địa bàn cả nước tham gia cuộc điều tra khảo sát PCI năm 2019 của VCCI.

PCI năm 2019 của tỉnh Thái Bình đạt 65,38 điểm, xếp thứ 28/63 tỉnh, thành cả nước (ở nhóm Khá), xếp thứ 6/11 so với các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Hồng. Thái Bình đã có 05 năm liên tiếp tăng điểm chỉ số PCI từ năm 2015-2019 (năm 2019 tăng 7,74 điểm so với năm 2015, xếp hạng tăng 10 bậc). Căn cứ điểm số của từng chỉ số thành phần, Sở Kế hoạch và Đầu tư báo cáo đánh giá chỉ số PCI tỉnh Thái Bình năm 2019 như sau: 

TỔNG HỢP KẾT QUẢ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TỈNH THÁI BÌNH:

 

 

ĐÁNH GIÁ VÀ NGUYÊN NHÂN TĂNG CHỈ SỐ PCI

1. Đánh giá chung về kết quả PCI năm 2019 của tỉnh

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2019 của tỉnh đạt 65,38 điểm, xếp hạng 28/63 tỉnh thành trong cả nước (thứ 6/11 tỉnh đồng bằng Sông Hồng). So với năm 2018, chỉ số PCI của tỉnh đã tăng 2,15 điểm và 04 bậc trên bảng xếp hạng PCI cả nước. Có một số chỉ tiêu có sự cải thiện đáng kể về điểm số như: Gia nhập thị trường tăng 0,73 điểm, Chi phí thời gian tăng 1,18 điểm, Cạnh tranh bình đẳng tăng 1,02 điểm, Tính năng động tăng 1,32 điểm.

Trong 10 chỉ số thành phần PCI năm 2019 có 03 chỉ số bị giảm điểm (năm 2018 là 3 chỉ số giảm điểm); trong đó chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp đã bị giảm điểm năm thứ 2 liên tiếp, chỉ số Chi phí không chính thức và chỉ số Đào tạo lao động sau khi tăng điểm năm 2018 đã lại giảm điểm vào năm 2019.

Năm 2019 là năm thứ 5 liên tiếp chỉ số PCI của tỉnh tăng điểm (năm 2019 tăng 7,74 điểm so với năm 2015), điều này chứng minh những nỗ lực của tỉnh trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đã đem lại hiệu quả trong thực tiễn; tuy nhiên thứ hạng của tỉnh trên bảng xếp hạng PCI cả nước mặc dù đã tăng 10 bậc so với năm 2015 (28 so với 38) nhưng vẫn chưa vào top 20 tỉnh thành dẫn đầu trong cả nước, một phần nguyên nhân là do các tỉnh thành trên cả nước cũng rất quyết tâm phấn đấu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường thu hút đầu tư. Trong thời gian tới, cần tiếp tục phát huy tốt những kết quả đã đạt được và đề ra các giải pháp mới, đột phá trong công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, duy trì đà tăng điểm và tiếp tục nâng cao thứ hạng của tỉnh trên bảng xếp hạng PCI.

2. Phân tích và đánh giá nguyên nhân tăng, giảm điểm ở từng chỉ số thành phần.

(1) Chỉ số Gia nhập thị trường: Đạt 7,70 điểm, tăng 0,73 điểm so với năm 2017, xếp thứ 20/63 tỉnh (năm 2018 xếp thứ 47), thành cả nước và xếp thứ 4/11 (năm 2018 xếp thứ 8) tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Hồng.

Sau 02 năm 2017, 2018 giảm điểm kể từ khi VCCI thay đổi phương pháp điều tra và tính điểm, chỉ số Gia nhập thị trường đã có sự tăng điểm đáng kể năm 2019.

Trong 10 chỉ tiêu điều tra Chỉ số gia nhập thị trường năm 2019, có 08 chỉ tiêu tăng điểm và chỉ 02 chỉ tiêu giảm điểm so với năm 2018. Ý kiến đánh giá của các doanh nghiệp nhận được phiếu điều tra về Chỉ số gia nhập thị trường như sau:

Các doanh nghiệp đánh giá số ngày cần thiết để thành lập doanh nghiệp tại tỉnh là 5 ngày bằng với mức bình quân chung của cả nước là 5 ngày. Tuy nhiên, thời gian giải quyết hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp (hồ sơ hợp lệ) của Sở Kế hoạch và Đầu tư được công khai và thực hiện tại Trung tâm Phục vu Hành chính công tỉnh chỉ là 3 ngày làm việc. Các doanh nghiệp được điều tra cũng cho rằng cần phải mất 5,5 ngày để thay đổi đăng ký doanh nghiệp (con số này của năm 2018 là 7 ngày), trong khi đó, thời gian giải quyết thủ tục thực tế chỉ là 3 ngày làm việc đối với các hồ sơ hợp lệ.

Có 28% số doanh nghiệp được hỏi cho rằng cần phải chờ hơn 1 tháng hoàn thành tất cả các thủ tục để chính thức hoạt động (năm 2018 là 21%) và 0% doanh nghiệp được hỏi phải chờ hơn 3 tháng (năm 2018 là 4%). Theo quy định, khi doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là đã đủ điều kiện đi vào hoạt động được ngay, trừ các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh các ngành nghề có điều kiện theo quy định của pháp luật thì cần thiết phải thực hiện thủ tục xin cấp chứng chỉ hoặc chứng nhận đủ điều kiện hoạt động của các cơ quan chức năng có thẩm quyền (như hành nghề y dược, chăm sóc sức khỏe …), điều này có thể kéo dài thời gian đi vào hoạt động chính thức của doanh nghiệp.

Tuy tỷ lệ các doanh nghiệp được hỏi đánh giá cán bộ làm công tác đăng ký kinh doanh đều hướng dẫn rõ ràng, đầy đủ có giảm đi so với năm 2018 (77% so với 86% của năm 2018) nhưng tỷ lệ các doanh nghiệp đánh giá cán bộ làm công tác này là nhiệt tình, thân thiện lại tăng lên (90% so với 79% năm 2018); đồng thời phần lớn số doanh nghiệp được hỏi nhận định cán bộ am hiểu chuyên môn (87% so với 57% của năm 2018). Tỷ lệ các doanh nghiệp cho rằng thủ tục đăng ký kinh doanh được niêm yết công khai đã tăng lên so với năm 2018 (73% so với 71% năm 2018), đồng thời, tỷ lệ doanh nghiệp làm thủ tục đăng ký kinh doanh qua phương thức mới (trực tuyến, Trung tâm Hành chính công, bưu điện) cũng có xu hướng tăng lên (40% so với 21% năm 2018); ngoài ra, có 37% số doanh nghiệp được hỏi cho rằng cơ quan nhà nước đã ứng dụng công nghệ thông tin tốt trong thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp so với 25% của năm 2018.

Trong thời gian qua, để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong việc gia nhập thị trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã nghiêm túc thực hiện việc công bố công khai và thực hiện theo phương thức “5 tại chỗ” đối với 100% các thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công của tỉnh (tại nơi tiếp nhận hồ sơ và trên Cổng thông tin điện tử của Sở, của Trung tâm Phục vụ Hành chính công). Đồng thời đã tích cực tuyên truyền, hướng dẫn các doanh nghiệp, người dân có nhu cầu tiến hành các thủ tục đăng ký kinh doanh qua mạng điện tử hoặc gửi hồ sơ đăng ký kinh doanh theo đường bưu điện; ngoài ra, Sở đã chỉ đạo các phòng, đơn vị chuyên môn thuộc Sở xây dựng kế hoạch tăng cường tỷ lệ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử, trong đó xác định mốc thời gian và nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị trong việc hỗ trợ doanh nghiệp, người dân thực hiện phương thức đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử để đưa vào triển khai thực hiện tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh trong thời gian tới.

(2) Chỉ số Tiếp cận đất đai: đạt 6,30 điểm tăng 0,13 điểm so với năm 2018 đứng ở vị trí 53/63 tỉnh, thành phố (giảm 04 bậc so với năm 2018); đứng thứ 10/11 vùng Đồng Bằng Sông Hồng (giảm 2 bậc so với năm 2018).

Tiếp tục đà tăng điểm và cải thiện của năm 2018, chỉ số Tiếp cận đất đai tiếp tục được cải thiện trong năm 2019. Triển khai thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh trong việc cải thiện môi trường kinh doanh nói chung và cải cách thủ tục hành chính về đất đai nói riêng; thời gian qua, ngành Tài nguyên và Môi trường đã tập trung rà soát, đề xuất giải pháp xây dựng thủ tục hành chính của ngành theo hướng rút gọn thành phần hồ sơ, cắt giảm thời gian và thủ tục hành chính; đồng thời Sở Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện việc đơn giản hóa các quy trình: đối với các trường hợp thuê đất trả tiền hàng năm Sở đã lồng ghép 2 thủ tục trong 1, như: ký Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng thời với quyết định cho thuê đất, nhà đầu tư sau khi nhận quyết định cho thuê đất hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định là được nhận Giấy chứng nhận; Thẩm định nhu cầu sử dụng đất đồng thời trong hồ sơ gia hạn thời hạn sử dụng đất. Qua đó giảm thành phần hồ sơ, thời gian đi lại, thời gian giải quyết hồ sơ cho tổ chức, công dân. Các thủ tục hành chính của ngành được niêm yết, công khai tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công cấp tỉnh và Bộ phận tiếp nhận và Trả kết quả cấp huyện, xã; đồng thời công khai trên cổng thông tin điện tử của Sở.

Qua kết quả trả lời điều tra của các doanh nghiệp đối với chỉ số Tiếp cận đất đai năm 2019 của tỉnh, có thể nhận thấy việc tiếp cận quỹ đất, mở rộng mặt bằng đầu tư sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã từng bước được cải thiện khi có 37% số doanh nghiệp được hỏi cho rằng không gặp cản trở về tiếp cận/mở rộng mặt bằng kinh doanh (so với 36% của năm 2018) đồng thời chỉ có 13% số doanh nghiệp được hỏi cho rằng có khó khăn về thiếu quỹ đất sạch (con số này của năm 2018 là 20%); tuy nhiên, các doanh nghiệp cho rằng tình hình giải phóng mặt bằng vẫn còn gặp khó khăn (34% số doanh nghiệp được hỏi, so với 23% của năm 2018). Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (chủ yếu khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp) tại một số địa phương còn chậm, khó khăn do một bộ phận người sử dụng đất không đồng thuận; nhiều trường hợp yêu cầu giá bồi thường, hỗ trợ cao hơn so với quy định hiện hành. Nhà đầu tư khi đầu tư thực hiện dự án ngoài các khu cụm công nghiệp phải tự thỏa thuận với người sử dụng đất; việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn khó khăn, nhiều trường hợp yêu cầu giá thỏa thuận chuyển nhượng cao.

Ngoài ra, mặc dù điểm số của chỉ số Tiếp cận đất đai năm 2019 đã có sự cải thiện so với năm 2018 nhưng xếp hạng của chỉ số này trên bảng xếp hạng cả nước cũng như của vùng Đồng bằng Sông Hồng lại bị tụt giảm; điều này chứng tỏ việc cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận đất đai của tỉnh tuy đã có nhiều chuyển biến tốt nhưng vẫn chưa theo kịp được với yêu cầu thực tiễn cũng như chưa thực sự bắt kịp tốc độ thay đổi của các địa phương khác trong cả nước.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sớm được tiếp cận quỹ đất phục vụ sản xuất kinh doanh, trong thời gian tới, ngành Tài nguyên và Môi trường cần tiếp tục triển khai thực hiện các giải pháp nhằm tinh gọn, đảm bảo quy định của pháp luật trong quản lý sử dụng đất đai, coi đây là giải pháp quan trọng để hỗ trợ doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp yên tâm đầu tư và đẩy nhanh tiến độ đầu tư dự án.

(3) Chỉ số Tính minh bạch: Được 6,96 điểm, tăng 0,69 điểm, xếp thứ 9/63 tỉnh, thành cả nước (tăng 21 bậc so với năm 2018) và xếp thứ 3/11 tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Hồng, sau Quảng Ninh và Bắc Ninh (bằng với xếp hạng của năm 2018).

Theo cảm nhận của các doanh nghiệp, việc tiếp cận các tài liệu quy hoạch và các tài liệu pháp lý của tỉnh năm 2019 đã có sự dễ dàng hơn so với năm 2018. Đồng thời 100% doanh nghiệp được hỏi cho rằng “Các tài liệu về ngân sách đủ chi tiết để doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh”, tuy nhiên nhận định của các doanh nghiệp về vai trò của Hiệp hội doanh nghiệp trong việc xây dựng chính sách, quy định của tỉnh lại giảm đi (51% so với 57% của năm 2018). Cổng thông tin điện tử của tỉnh, các sở, ban, ngành độ mở và chất lượng hoạt động tiếp tục đạt được sự hài lòng của doanh nghiệp với 38 điểm (cao hơn 2 điểm so với năm 2018) và cao hơn mức điểm trung bình của cả nước (35,25 điểm), ngoài ra, các doanh nghiệp đã tích cực hơn trong việc truy cập vào website của tỉnh để tìm kiếm thông tin (84% so với 64% của năm 2018). Trong thời gian tới, các sở, ngành trong tỉnh cần tiếp tục tập trung thực hiện tốt việc cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp, tăng cường cập nhật thông tin về cơ chế chính sách, các thông tin về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh và Cổng thông tin điện tử của ngành, đảm bảo 100% các cơ quan, đơn vị trong tỉnh đã công khai, minh bạch hóa các văn bản pháp luật, thủ tục hành chính, quy trình thực hiện các thủ tục hành chính tại nơi làm thủ tục.

(4) Chi phí thời gian: Được 7,53 điểm, tăng 1,18 điểm, xếp thứ 14/63 tỉnh , thành cả nước (tăng 32 bậc so với năm 2018) và xếp thứ 2/11 tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Hồng (tăng 7 bậc so với năm 2018).

Đây là 1 trong 2 chỉ số có sự cải thiện rõ rệt nhất trong năm 2019. Tất cả các chỉ tiêu thành phần của chỉ số Chi phí thời gian đều có sự thay đổi theo hướng tích cực so với năm 2018. Tuy nhiên, số liệu điều tra cho thấy tỷ lệ các doanh nghiệp dành hơn 10% quỹ thời gian để tìm hiểu và thực hiện quy định pháp luật vẫn chưa nhiều (22% so với 19% năm 2018). Các doanh nghiệp được hỏi tiếp tục đánh giá các thủ tục giấy tờ để giải quyết các công việc là đơn giản, với mức phí, lệ phí được niêm yết công khai, rõ ràng, thời gian thực hiện thủ tục hành chính được rút ngắn hơn so với quy định và tỷ lệ các doanh nghiệp phải đi lại nhiều lần để giải quyết công việc tiếp tục giảm so với năm 2018 (33% so với 47% năm 2018); thời gian bình quân cho mỗi cuộc làm việc thanh tra, kiểm tra thuế tuy có giảm so với năm 2018 (22 giờ so với 24 giờ năm 2018) nhưng vẫn ở mức cao hơn so với bình quân trung cả nước (19,25 giờ).

(5) Chi phí không chính thức: Đạt 6,26 điểm, giảm 0,07 điểm, xếp thứ 30/63 tỉnh, thành cả nước (giảm 8 bậc so với năm 2018) và xếp thứ 5/11 tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Hồng (năm 2018 xếp thứ 4)

Đây là chỉ số có sự không ổn định thời gian qua. Sau khi tăng điểm năm 2018 thì chỉ số Chi phí không chính thức lại tụt giảm điểm số ở năm 2019, mặc dù số điểm giảm đi khá nhỏ (0,07 điểm). Cụ thể theo kết quả khảo sát, tình trạng “doanh nghiệp có chi trả các chi phí không chính thức cho việc thực hiện thủ tục hành chính về đất đai”; tình trạng “các doanh nghiệp cùng ngành thường phải trả thêm các khoản chi phí không chính thức” … đã giảm bớt; tuy nhiên tỷ lệ các doanh nghiệp được hỏi cho rằng “Chi trả các chi phí không chính thức là điều kiện bắt buộc để đảm bảo trúng thầu” lại tăng mạnh (66% so với 36% của năm 2018), đây là một nguyên nhân dẫn đến sự giảm điểm của chỉ số Chi phí không chính thức trong năm 2019.

(6) Cạnh tranh bình đẳng: Được 6,25 điểm, tăng 1,02 điểm, xếp thứ 39/63 tỉnh, thành cả nước (năm 2018 xếp thứ 48) và xếp thứ 07/11 tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Hồng (bằng với thứ hạng năm 2018).

Chỉ số Cạnh tranh bình đẳng sau khi bị tụt giảm điểm số lần đầu tiên vào năm 2017 đã tăng điểm nhẹ trong năm 2018 và tăng mạnh vào năm 2019.

Chỉ số Cạnh tranh bình đẳng chủ yếu đo lường về sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác của địa phương. Đối với Thái Bình, cảm nhận của các các doanh nghiệp được hỏi trong năm 2019 về sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác đã có sự chuyển biến. Cụ thể: có 35% doanh nghiệp cho rằng “Việc tỉnh ưu ái cho các DNNN gây khó khăn cho DN” so với 37% của năm 2018; tỷ lệ doanh nghiệp cho rằng “DNNN thuận lợi hơn trong tiếp cận đất đai” là 30% so với 32% năm 2018; đồng thời phần lớn các doanh nghiệp cho rằng việc tiếp cận các khoản vay là công bằng và thực hiện thủ tục hành chính đã được rõ ràng, minh bạch giữa các thành phần kinh tế, thông qua việc chỉ có 17% doanh nghiệp được hỏi cho rằng “DNNN thuận lợi hơn trong việc thực hiện các thủ tục hành chính” và 24% số doanh nghiệp được hỏi cho rằng “DNNN thuận lợi hơn trong tiếp cận các khoản vay”; ngoài ra số các doanh nghiệp cho rằng “Ưu đãi DN lớn (nhà nước và tư nhân) là trở ngại cho bản thân doanh nghiệp” đã giảm đi (44% so với 57% năm 2018).

Đối với lĩnh vực FDI, phần lớn các doanh nghiệp được hỏi vẫn còn nhận định có sự khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp; cụ thể, các doanh nghiệp được hỏi cho rằng “Doanh nghiệp FDI thuận lợi hơn trong thực hiện các TTHC” (23% so với 17% năm 2018) và “Tỉnh ưu tiên thu hút FDI hơn là phát triển khu vực tư nhân” (42% so với 38% năm 2018) và các “Doanh nghiệp FDI có đặc quyền trong miễn/giảm thuế TNDN” (22% doanh nghiệp đồng ý, so với 21% của năm 2018); tuy nhiên, các doanh nghiệp cho rằng tỉnh đã quan tâm, công bằng trong giải quyết khó khăn cho các loại hình doanh nghiệp khi chỉ có 34% doanh nghiệp được hỏi cho rằng doanh nghiệp FDI được “Ưu tiên giải quyết các khó khăn hơn các DN dân doanh” so với 57% năm 2018

Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh luôn xác định và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp tham gia đầu tư sản xuất kinh doanh. Trong thời gian tới, cần tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền về chủ trương phát triển kinh tế xã hội nói chung, chủ trương phát triển cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nói riêng để các doanh nghiệp nắm bắt, hiểu rõ và triển khai thực hiện hiệu quả, góp phần phát triển doanh nghiệp và đóng góp cho sự phát triển chung của tỉnh.

(7) Tính năng động của lãnh đạo tỉnh: Được 6,88 điểm, tăng 1,32 điểm, xếp thứ 12/63 tỉnh (tăng 19 bậc so năm 2018), thành cả nước và xếp thứ 3/11 tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Hồng (tăng 05 bậc so năm 2018).

Chỉ số Tính năng động đã có năm thứ 5 liên tiếp tăng điểm. Đa số doanh nghiệp (86%) đánh giá Ủy ban nhân dân tỉnh rất linh hoạt trong việc triển khai các quy định của pháp luật nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân, các vấn đề mới phát sinh hoặc vướng mắc trong các quy định của nhà nước đều được Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo để triển khai thực hiện trong đó có sự sáng tạo và năng động.

Công tác giải quyết, tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho các doanh nghiệp cũng được tỉnh triển khai thực hiện tốt: có 74% doanh nghiệp được hỏi cho rằng khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp được tháo gỡ kịp thời qua đối thoại doanh nghiệp; 90% doanh nghiệp được hỏi đều nhận được phản hồi của cơ quan nhà nước sau khi phản ánh khó khăn, vướng mắc và có 83% số doanh nghiệp được hỏi hài lòng với cách phản hồi/giải quyết của cơ quan nhà nước trong tỉnh.

(8) Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp: Được 5,60 điểm, giảm 0,57 điểm, xếp thứ 49/63 tỉnh, thành cả nước (giảm 7 bậc so với năm 2018) và xếp thứ 11/11 tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Hồng (năm 2017 xếp thứ 10).

Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp không đảm bảo được sự ổn định trong thời gian qua. Sau khi có sự tăng điểm và cải thiện thứ hạng mạnh trong năm 2017, Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp lại sụt giảm điểm số trong năm 2018 và năm 2019.

Trong số 24 chỉ tiêu thành phần năm 2019 của Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, chỉ có 08 chỉ tiêu tăng điểm. Các chỉ số giảm điểm năm 2019 tiếp tục là những chỉ số có liên quan đến nhận định của doanh nghiệp về chất lượng của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ liên quan đến tư vấn pháp lý, tư vấn tìm kiếm đối tác kinh doanh, dịch vụ công nghệ, đào tạo tài chính kế toán, quản trị kinh doanh … trên địa bàn tỉnh tỉnh, tỷ lệ các doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng các dịch vụ trên đều giảm so với năm 2018. Ngoài ra, tỷ lệ các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (tư nhân cũng như FDI) trên địa bàn tỉnh cũng không tăng so với năm 2018, điều này chứng tỏ lĩnh vực cung cấp dịch vụ trên địa bàn tỉnh chưa thực sự được các doanh nghiệp quan tâm đầu tư. Tuy nhiên, ở góc độ quản lý nhà nước, hoạt động xúc tiến thương mại đã có cải thiện so với năm 2018, thể hiện ở số lượng các hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức đã tăng lên (8 so với 3 của năm 2018), đồng thời số lượng các doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ xúc tiến thương mại cũng có sự tăng trưởng nhẹ (71% so với 68% năm 2018). Kết quả điều tra Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp năm 2019 cũng cho thấy một số thông tin khả quan: như các doanh nghiệp trong tỉnh đã tăng cường sử dụng các dịch vụ tìm kiếm thông tin thị trường, dịch vụ tư vấn pháp luật, dịch vụ tìm kiếm đối tác kinh doanh, dịch vụ xúc tiến thương mại được cung cấp bởi các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ trên địa bàn tỉnh, đây có thể là một lĩnh vực kinh doanh nhiều tiềm năng, cần được khuyến khích đầu tư phát triển trong thời gian tới.

(9) Chỉ số Đào tạo lao động: Được 6,68 điểm, giảm 0,19 điểm, xếp thứ 33/63 tỉnh, thành cả nước (năm 2018 xếp thứ 13) và xếp thứ 11/11 tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Hồng (năm 2018 xếp thứ 7).

Chỉ số Đào tạo lao động không giữ được đà tăng điểm trong 2 năm vừa qua khi lại sụt giảm điểm số trong năm 2019. Qua điều tra cho thấy, mức độ hài lòng của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh với dịch vụ giới thiệu việc làm tại tỉnh đã có sự giảm sút khi tỷ lệ doanh nghiệp đã từng sử dụng dịch vụ giới thiệu việc làm, và tỷ lệ doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ này trong thời gian tới đã giảm sút so với năm 2018, đồng thời, tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ giới thiệu việc làm cũng giảm so với năm 2018 (65% so với 88% năm 2018); tuy nhiên, các doanh nghiệp đánh giá chất lượng giáo dục dạy nghề của tỉnh đã được nâng lên (có 43% số doanh nghiệp được hỏi đánh giá giáo dục dạy nghề tại tỉnh có chất lượng tốt, so với 32% của năm 2018), ngoài ra, các doanh nghiệp cũng đánh giá nguồn nhân lực tại tỉnh là khá tốt, qua tỷ lệ 92% doanh nghiệp được hỏi cho rằng lao động tại tỉnh đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp. Trong thời gian tới cần tiếp tục nâng cao chất lượng của dịch vụ giới thiệu việc làm tại tỉnh, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực này, đồng thời cần tăng cường quảng bá, nâng cao vai trò, vị trí của Trung tâm Dịch vụ việc làm của tỉnh.

Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội cần tiếp tục tăng cường công tác phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, nhất là công tác lao động, việc làm và giáo dục nghề nghiệp, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; chú trọng quy hoạch, sắp xếp ổn định, đầu tư trọng tâm, trọng điểm và linh hoạt các hình thức đào tạo nghề; tiếp tục gắn mục tiêu tăng trưởng việc làm vào các đề án, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, chú trọng thông tin thị trường lao động; tăng cường phổ biến các quy định pháp luật về an toàn vệ sinh lao động đến cán bộ cơ sở, doanh nghiệp và người lao động, nâng cao ý thức trách nhiệm của người sử dụng lao động, người lao động; đảm bảo điều kiện làm việc của người lao động trong doanh nghiệp.

 (10) Chỉ số thiết chế pháp lý và An ninh trật tự: Được 6,62 điểm, tăng 0,32 điểm, xếp thứ 29/63 tỉnh, thành cả nước (năm 2018 xếp thứ 27) và xếp thứ 6/11 tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Hồng (năm 2018 xếp thứ 2)

Chỉ số Thiết chế pháp lý và An ninh trật tự tiếp tục có sự tăng điểm năm thứ 3 liên tiếp, điều này phản ánh những nỗ lực của các sở, ngành, địa phương trong công tác nâng cao đảm bảo tính công bằng của pháp luật và môi trường kinh doanh an toàn, thân thiện đã được các doanh nghiệp đánh giá cao; tuy nhiên, thứ hạng trên bảng xếp hạng toàn quốc và vùng Đồng bằng Sông Hồng của chỉ số này lại sụt giảm so với năm 2018.

Nguyên nhân của việc tăng điểm Chỉ số này trong năm 2019 là do cảm nhận của các doanh nghiệp về hệ thống pháp luật tại địa phương tiếp tục được cải thiện tích cực: 42% doanh nghiệp được hỏi cho rằng Hệ thống pháp luật có cơ chế giúp doanh nghiệp tố cáo cán bộ nhũng nhiễu so với 26% của năm 2018, đồng thời tin tưởng không có sự bao che trong việc xử lý cán bộ nhũng nhiễu (có 47% doanh nghiệp được hỏi cho rằng Lãnh đạo tỉnh sẽ không bao che và nghiêm túc kỷ luật cán bộ nhũng nhiễu so với 34% của năm 2018), 88% doanh nghiệp được hỏi tin tưởng hệ thống pháp luật sẽ đảm bảo quyền tài sản/thực thi hợp đồng của doanh nghiệp (năm 2018 là 86%), 89% doanh nghiệp tin tưởng các vụ việc kinh tế được toà án các cấp của tỉnh xét xử đúng pháp luật (năm 2018 là 87%). Các cơ quan trợ giúp pháp lý tại tỉnh cũng đã hoạt động khá hiệu quả trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc khởi kiện (74% doanh nghiệp được hỏi đồng ý so với 73% năm 2018), trong khi doanh nghiệp cũng hài lòng với các chi phí phải trả khi giải quyết tranh chấp qua Tòa án (84% doanh nghiệp được hỏi so với 80% của năm 2018).

Chỉ tiêu về An ninh trật tự trên địa bàn được nhóm nghiên cứu PCI bổ sung vào chỉ số Thiết chế pháp lý từ năm 2017. Theo kết quả khảo sát, các doanh nghiệp khá hài lòng với tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh (72% doanh nghiệp được hỏi đồng ý, so với 60% năm 2018); tuy nhiên tỷ lệ doanh nghiệp bị mất trộm tài sản lại tăng lên (12% so với 7% năm 2018), có 3% doanh nghiệp được hỏi phải trả tiền "bảo kê" cho các băng nhóm côn đồ, xã hội đen để yên ổn làm ăn, đây cũng là tỷ lệ cao hơn năm 2018 (chỉ 1%) trong khi mức bình quân của cả nước là 2%. Ngoài ra, chỉ có 50% số doanh nghiệp được hỏi cho rằng cơ quan công an hỗ trợ giải quyết hiệu quả khi doanh nghiệp xảy ra vụ việc mất trộm tài sản, giảm so với tỷ lệ 60 % của năm 2018 và 74% của năm 2017.

MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ CẢI THIỆN CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỈNH TRONG THỜI GIAN TỚI:

1. Mục tiêu

- Tiếp tục nắm vững quan điểm, bám sát 9 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu và các mục tiêu nêu trong Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 05/5/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tỉnh Thái Bình đến năm 2020 gắn với việc thực hiện các Nghị quyết số 19, Nghị quyết số 02 của Chính phủ về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020.

- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính quyền trong tỉnh tạo chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, phục vụ tốt người dân và doanh nghiệp.

- Đề cao vai trò của của cộng đồng doanh nghiệp trong tỉnh đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, từ đó làm tốt chức năng nhiệm vụ được giao với phương châm phục vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.

- Xây dựng môi trường kinh doanh công bằng, thân thiện, thông thoáng; tạo điều kiện để doanh nghiệp khởi nghiệp. Khuyến khích các tập thể, cá nhân có những sáng kiến cải cách nhằm rút ngắn quy trình, giảm bớt số lượng và đơn giản hóa nội dung thủ tục hành chính.

- Phấn đấu thứ hạng của tỉnh hàng năm tăng từ 2 đến 4 bậc trên bảng xếp hạng PCI của cả nước.

2. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu:

2.1. Các cấp, các ngành trong tỉnh tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền về phát triển kinh tế, phát triển doanh nghiệp, thu hút đầu tư, chính sách khuyến khích hỗ trợ doanh nghiệp để nâng cao nhận thức về mục tiêu, tầm quan trọng của công tác cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh; rà soát và công khai thường xuyên thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các sở, ngành, Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố trong tỉnh trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, của huyện và của các cơ quan, đơn vị nhằm tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân thuận lợi trong thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh.

2.2. Tiếp tục thực hiện nghiêm quy định của Tỉnh ủy, UBND tỉnh về trách nhiệm giải trình của bộ máy chính quyền, trách nhiệm người đứng đầu, công chức, viên chức trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Thủ trưởng các sở, ngành, địa phương căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình được giao phụ trách một hoặc nhiều chỉ số thành phần PCI, xây dựng kế hoạch hành động để triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao của ngành, địa phương mình.

Các sở, ngành liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh tích cực triển khai các buổi tọa đàm, hội thảo, hội nghị để kịp thời giải đáp, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong quá trình đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh.

Tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm quy định về quản lý, sử dụng đường dây nóng của UBND tỉnh để tiếp thu, xử lý những thông tin của đại diện tổ chức, cá nhân phản ánh về vấn đề có liên quan đến tỉnh Thái Bình ban hành theo Quyết định số 1139/QĐ-UBND ngày 13/5/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Các sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân huyện, thành phố nghiêm túc duy trì đường dây nóng để tiếp thu, xử lý những thông tin của đại diện tổ chức, cá nhân phản ánh về vấn đề liên quan đến các sở, ban, ngành, huyện, thành phố theo đúng tinh thần chỉ đạo của UBND tỉnh tại Chỉ thị số 13/CT-UBND ngày 13/5/2016.

2.3. Tiếp tục vận hành có hiệu quả hoạt động của Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả cấp huyện, xã. Tăng cường ứng dụng và triển khai chính phủ điện tử, nâng cao tỷ lệ người dân và doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trên địa bàn tỉnh. Khuyến khích người dân, doanh nghiệp thanh toán không dùng tiền mặt bằng nhiều phương tiện khác nhau theo quy định của pháp luật.

Triển khai thực hiện tốt phương án “5 tại chỗ” tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh, phấn đấu duy trì và thực hiện tốt việc giải quyết 100% thủ tục hành chính của các sở, ngành tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh theo phương án “5 tại chỗ”. Thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích theo Quyết định số 1753/QĐ-UBND ngày 30/6/2017 của UBND tỉnh Thái Bình về việc ban hành quy chế phối hợp trong việc tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích tại tỉnh Thái Bình.

Tăng cường tính minh bạch, công khai các chủ trương chính sách, các thủ tục theo quy định, niêm yết giá dịch vụ, phí, lệ phí, mức thuế phải nộp tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả cấp huyện, xã; xây dựng hòm thư góp ý, nội quy tiếp dân .v.v. để tăng cường trách nhiệm và đề cao ý thức, phẩm chất của cán bộ công chức khi tiếp xúc với doanh nghiệp.

Đẩy mạnh cải cách hành chính ở tất cả các lĩnh vực liên quan đến đầu tư kinh doanh. Phân cấp rõ về thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin về cơ hội đầu tư, thông tin quy hoạch, thông tin bản đồ hiện trạng đất đai; thủ tục về chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, thủ tục và đăng ký đất đai, thủ tục cấp ưu đãi đầu tư ... theo qui định của Nhà nước.

Tiếp tục rà soát để đơn giản hóa các thủ tục hành chính, bãi bỏ các giấy phép, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh không cần thiết. Trọng tâm tập trung vào những vấn đề liên quan đến thuế, tài chính; thành lập doanh nghiệp và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất kinh doanh. Kết quả rà soát thủ tục hành chính phải được niêm yết công khai, cập nhật thường xuyên để công dân, doanh nghiệp được biết và có bộ phận hướng dẫn thủ tục để tổ chức và cá nhân không phải mất thời gian tự tìm hiểu, tự hoàn thiện hồ sơ do phải chỉnh sửa và đi lại nhiều lần. Các sở, ngành, địa phương nghiêm túc thực thi đầy đủ các điều kiện kinh doanh đã bị bãi bỏ, những nội dung được đơn giản hóa của các quy định về điều kiện kinh doanh; không tự đặt thêm điều kiện kinh doanh trái quy định của pháp luật; đảm bảo thực thi đầy đủ các quy định về cắt giảm danh mục mặt hàng và cải cách thủ tục hành chính về kiểm tra chuyên ngành; xử lý nghiêm những cán bộ, công chức không thực hiện đúng, đầy đủ các quy định mới về điều kiện kinh doanh.

Khuyến khích, định hướng cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp tập trung đầu tư vào khu kinh tế, khu, cụm công nghiệp, hạn chế đầu tư ngoài các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; Thu hút các dự án đầu tư nhưng có chọn lọc theo chủ trương phát triển của tỉnh và đảm bảo môi trường sản xuất kinh doanh ổn định, phát triển bền vững.

Triển khai thực hiện tốt công tác giám sát, đánh giá đầu tư theo quy định tại Nghị định 84/2015/NĐ-CP ngày 30/9/2015 của Chính phủ về giám sát và đánh giá đầu tư và Nghị định số 01/2020/NĐ-CP ngày 01/01/2020 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 84/2015/NĐ-CP ngày 30/9/2015 của Chính phủ về giám sát và đánh giá đầu tư. Xây dựng kế hoạch thanh, kiểm tra theo hướng liên ngành, tập trung vào những đối tượng có vi phạm, hạn chế việc phải đến tất cả các doanh nghiệp; rút ngắn tối đa thời gian các cuộc thanh tra, kiểm tra; kết luận rõ ràng, không làm ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

2.4. Tiếp tục triển khai đầu tư xây dựng và hoàn thiện nền tảng chính quyền điện tử tỉnh Thái Bình; Đề án xây dựng chính quyền điện tử tỉnh Thái Bình giai đoạn 2016-2020; Đề án đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cải cách hành chính tỉnh Thái Bình giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2030. Xây dựng và triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Đề án Đô thị thông minh tỉnh Thái Bình.

Tăng cường cung cấp thông tin cho doanh nghiệp thông qua Cổng thông tin điện tử của tỉnh và Cổng thông tin điện tử của các sở, ngành, huyện, thành phố. Ưu tiên xây dựng hệ thống nền tảng, tích hợp, chia sẻ (hệ thống LGSP của tỉnh) để tích hợp, liên thông các hệ thống thông tin trong các hoạt động thuộc Dự án đầu tư xây dựng hoàn thiện cơ sở hạ tầng của nền tảng Chính quyền điện tử tỉnh Thái Bình được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 0355/QĐ-UBND ngày 27/10/2016.

Đẩy mạnh hoạt động của sàn giao dịch điện tử tỉnh Thái Bình để tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp quảng bá thương hiệu và sản phẩm trên Internet.

2.5. Thực hiện tốt công tác hỗ trợ doanh nghiệp.

Tiếp tục thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với các doanh nghiệp, đồng thời thực hiện tốt chính sách hỗ trợ, ưu đãi đầu tư của tỉnh vào các lĩnh vực khuyến khích đầu tư và Khu kinh tế Thái Bình.

Tập trung đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề, kỹ thuật, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và nhu cầu của doanh nghiệp.

Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin thị trường; khuyến khích thành lập các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn tìm kiếm thông tin thị trường, tìm kiếm đối tác kinh doanh, dịch vụ kế toán, tài chính, tư vấn pháp luật và dịch vụ liên quan đến công nghệ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

Tổ chức các hoạt động quảng bá, giới thiệu xúc tiến đầu tư, vận động đầu tư vào tỉnh một cách chuyên nghiệp và hiệu quả hơn; làm tốt công tác tư vấn cho các tổ chức cá nhân đến tìm hiểu cơ hội đầu tư, tư vấn thành lập và điều chỉnh nội dung đăng ký doanh nghiệp; tư vấn triển khai thực hiện các dự án đầu tư, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư; Đẩy mạnh công tác hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổ chức thường xuyên các khóa đào tạo ngắn hạn về Khởi sự doanh nghiệp và Quản trị doanh nghiệp; phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các cơ quan chức năng tổ chức các hoạt động khuyến khích khởi nghiệp nhằm hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp trên địa bàn tỉnh.

2.6. Tiếp tục triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2016-2020, tập trung đầu tư cho các lĩnh vực như hạ tầng giao thông kết nối giữa trục giao thông đầu mối trong tỉnh và kết nối với các trung tâm kinh tế vùng của quốc gia, ưu tiên tập trung triển khai đầu tư xây dựng một số công trình lớn, trọng điểm, có ý nghĩa quan trọng tới sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh như: Dự án tuyến đường bộ ven biển, Dự án đường 221A, Dự án đường từ Thành phố Thái Bình đi Cầu Nghìn... Xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 có chú trọng tới tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng Khu kinh tế Thái Bình, đặc biệt là các dự án ưu tiên đầu tư, xây dựng đợt đầu theo Quyết định số 1486/QĐ-TTg ngày 28/10/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Thái Bình, tỉnh Thái Bình đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050; xây dựng quy hoạch tỷ lệ 1/2000 các khu chức năng trong Khu kinh tế Thái Bình trên cơ sở quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để làm cơ sở thu hút các nhà đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu chức năng.

2.7. Thực hiện tốt công tác dự báo cho phát triển các ngành, các lĩnh vực để xác định nhu cầu sử dụng đất. Chủ động rà soát nhu cầu về đất phục vụ phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, đảm bảo có quỹ đất phù hợp khi doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư.

Xác định giá đất cụ thể sát với giá thị trường, góp phần thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng đảm bảo tiến độ yêu cầu khi thu hồi đất của các tổ chức, cá nhân sử dụng đất theo quy định. Tiếp tục tháo gỡ những vướng mắc, hỗ trợ cấp huyện trong công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư, đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái định cư của các dự án trên địa bàn tỉnh để dự án sớm được triển khai và đi vào hoạt động.

2.8. Thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về trình tự giải quyết các tranh chấp về đất đai, chế độ cho người lao động, quy định về chính sách người lao động nước ngoài; tranh chấp, kiện tụng về kinh tế tại các cơ quan tư pháp .v.v.

Nâng cao vai trò của các hiệp hội ngành nghề, tổ chức xã hội trong tư vấn và phản biện các chính sách của tỉnh. Tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể tham gia đóng góp ý kiến về các quy định, chính sách của Nhà nước, tăng cường đối thoại trực tiếp giữa doanh nghiệp với chính quyền, nhóm dân cư; thực hiện đối thoại trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh.

Tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả của các cơ quan tư pháp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết các tranh chấp của doanh nghiệp.

Phối hợp với các cơ quan Trung ương đào tạo, xây dựng đội ngũ luật sư có trình độ để có thể giúp đỡ, tư vấn hiệu quả cho doanh nghiệp trong các vụ kiện, tranh chấp thương mại.

2.9. Nâng cao vai trò của Hiệp hội doanh nghiệp, tăng cường gắn bó hợp tác với chính quyền, thân thiện, đồng thuận với người dân trên địa bàn.

Hiệp hội Doanh nghiệp phát huy vai trò chức năng, nhiệm vụ, tiếp tục thể hiện là tổ chức đại diện chính đáng, tập hợp đoàn kết các doanh nghiệp phản ánh nguyện vọng, quyền lợi hợp pháp của các doanh nghiệp trong tỉnh; tăng cường liên hệ trao đổi kịp thời phản ánh những vấn đề tồn đọng bức xúc, những khó khăn trở ngại cho phát triển doanh nghiệp đồng thời là cầu nối giữa chính quyền với doanh nghiệp; hiến kế, đóng góp ý kiến vào công tác quy hoạch, kế hoạch, chính sách liên quan phát triển doanh nghiệp trong tỉnh.

Hiệp hội Doanh nghiệp, các doanh nghiệp đã đầu tư vào tỉnh cần phối hợp với Chính quyền các cấp làm tốt công tác xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch thông qua việc xây dựng và phát triển doanh nghiệp làm gương, lan tỏa nhằm thu hút các dự án đầu tư. Doanh nghiệp cần nghiêm chỉnh thực hiện các quy định về điều kiện sản xuất an toàn, đảm bảo việc làm, quyền lợi, đời sống chính đáng của người lao động, bảo vệ môi trường; tích cực đóng góp nghĩa vụ thuế, quan tâm các hoạt động xã hội khác làm cho các cấp chính quyền và người dân hiểu hơn, gắn bó hơn với doanh nghiệp.

Xây dựng Kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện Quyết định số 634/QĐ-UBND ngày 27/02/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh về phê duyệt Đề án triển khai Bộ chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành, Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố (DDCI); phối hợp với đơn vị tư vấn và các sở, ngành chức năng triển khai cuộc điều tra, khảo sát, đánh giá chất lượng điều hành kinh tế của các sở, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, báo cáo Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh, làm căn cứ đánh giá về công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của các sở, ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh.

Các Sở, ngành, UBND huyện, Thành phố có kế hoạch định kỳ tiếp xúc, nhận ý kiến phản hồi của doanh nghiệp đối với lĩnh vực được phân công phụ trách; phối hợp tập trung giải quyết dứt điểm những vấn đề còn bức xúc hoặc nổi cộm, nhất là những vấn đề liên quan đến đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường, chế độ hỗ trợ doanh nghiệp .v.v. để tạo sự đồng thuận trong phát triển kinh tế, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các Sở, ngành có liên quan, UBND các huyện, thành phố thực hiện nghiêm Kế hoạch hành động số 17/KHHĐ-UBND ngày 27/02/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2020 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020.

2. Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh:

- Tiếp tục hiện đại hóa các hoạt động của Trung tâm. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết các thủ tục hành chính và tiếp thu phản ánh kiến nghị của người dân và doanh nghiệp. Đẩy mạnh các dịch vụ công trực tuyến, hướng tới đưa các thủ tục giải quyết trực tuyến ở mức độ 3 trở lên. Phối hợp tổ chức thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 đối với danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 mà các đơn vị đã đăng ký thực hiện.

- Phối hợp với các sở, ngành liên quan rà soát và công bố chính sách mới của Nhà nước, của tỉnh, thông tin quy hoạch chi tiết các khu, cụm công nghiệp của tỉnh trên trang thông tin điện tử cũng như tại Trụ sở Trung tâm Phục vụ Hành chính công để các doanh nghiệp có thể dễ dàng tra cứu tìm hiểu.

- Nâng cao chất lượng dịch vụ công; lấy người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trung tâm, tạo sự hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với việc giải quyết các thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước. Đảm bảo các thủ tục sẽ được giải quyết công khai, minh bạch, không có khâu trung gian; rút ngắn thời gian giải quyết theo quy định.

3. Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh: Phối hợp với các cơ quan nhà nước, tích cực kiến nghị, phản ánh những cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân gây khó khăn khi thực hiện thủ tục hành chính, làm ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời luôn nâng cao trách nhiệm trong việc triển khai và tuyên truyền, hướng dẫn cho hội viên khi tham gia đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phải nắm rõ nội dung, phân công người có trách nhiệm, hiểu biết để trả lời đầy đủ, chính xác, kịp thời và khách quan, trung thực.

4. Tòa án nhân dân tỉnh và Tòa án nhân dân các huyện, thành phố: cần tiếp tục nâng cao chất lượng công tác xét xử; tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng, đẩy nhanh tiến độ xét xử các vụ án kinh tế, đảm bảo đúng pháp luật và chỉ đạo các cơ quan thi hành án đẩy nhanh việc thi hành án.

5. Công an tỉnh tiếp tục tăng cường công tác đảm bảo an toàn, an ninh trật tự, tập trung lực lượng, phối hợp cùng các cơ quan chức năng giải quyết nhanh, hiệu quả các trường hợp, vụ việc mất an ninh, an toàn xảy ra trên địa bàn tỉnh nói chung và tại các doanh nghiệp nói riêng.

ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ

- Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh khẩn trương triển khai thực hiện Quyết định 634/QĐ-UBND ngày 27/02/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh về phê duyệt Đề án triển khai Bộ chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành, Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố (DDCI), góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh trong thời gian tới.

- Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, chỉ đạo các sở, ngành, địa phương và các đơn vị có liên quan đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các dự án đầu tư trọng điểm của tỉnh, quy hoạch các phân khu chức năng trong Khu kinh tế… tạo hạ tầng kỹ thuật thuận lợi, tăng cường thu hút đầu tư vào tỉnh.

- Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Sở Tài chính cân đối ngân sách tỉnh, bố trí kinh phí hợp lý cho công tác cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh như kinh phí tổ chức các hội thảo, hội nghị tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp; hội thảo về công tác cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh; kinh phí hỗ trợ đào tạo, nâng cao trình độ , năng lực về quản trị doanh nghiệp, quản trị sản xuất, tài chính, kế toán … cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các doanh nghiệp …

Trên đây là Báo cáo tổng hợp đánh giá Chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) năm 2019 của tỉnh;

Sở Kế hoạch và Đầu tư


Nguồn: sokhdt.thaibinh.gov.vn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Thăm dò ý kiến
Theo bạn thông tin nội dung của website thế nào?
Thống kê truy cập
Hôm nay : 9
Hôm qua : 312
Tháng 07 : 5.139
Năm 2020 : 193.079